Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Thứ sáu - 04/10/2019 21:43 46 0
Quán triệt mục tiêu Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch... phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh...” trên địa bàn tỉnh đạt được những kết quả tích cực.
Tăng cường tuyên truyền PBGDPL nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong Nhân dân
Tăng cường tuyên truyền PBGDPL nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong Nhân dân
Để cụ thể hóa Nghị quyết số 48-NQ/TW, Tỉnh ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng quán triệt, tuyên truyền, phổ biến đến đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành bằng những hình thức phù hợp. Công tác ban hành văn bản QPPL có những chuyển biến tích cực; hệ thống văn bản QPPL từng bước được hoàn thiện, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của công dân, phát huy vai trò của các ngành, các cấp trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ; các văn bản QPPL được ban hành bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, khả thi, nội dung, bố cục văn bản cơ bản rõ ràng, chặt chẽ, thuận lợi trong quá trình áp dụng. Từ năm 2005 - 2019: HĐND cấp tỉnh ban hành 265 nghị quyết; cấp huyện 512 nghị quyết; cấp xã 2.425 nghị quyết. UBND cấp tỉnh ban hành 730 quyết định, chỉ thị; cấp huyện 652 quyết định, 151 chỉ thị; cấp xã 1.228 quyết định, 37 chỉ thị).

Công tác soạn thảo văn bản QPPL tuân thủ trình tự, quy trình, quy định; thực hiện việc tổ chức lấy ý kiến tham gia của các tổ chức, cá nhân có liên quan (thông qua hội nghị, hội thảo, đăng tải dự thảo trên Cổng thông tin điện tử tỉnh, trang thông tin điện tử của các ngành); chất lượng thẩm định văn bản ngày càng được nâng lên, hạn chế sai sót. Việc thông qua hoặc ban hành văn bản QPPL thực hiện theo luật và các quy định của pháp luật có liên quan, đảm bảo đúng nguyên tắc thảo luận tập thể và quyết định theo đa số. Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL của tỉnh đi vào nền nếp. Kết quả đã rà soát, tự kiểm tra 995 văn bản QPPL do HĐND và UBND tỉnh ban hành, đạt 100%. Qua rà soát giai đoạn từ năm 2005 đến 31/12/2018, có 81 văn bản QPPL do HĐND và UBND tỉnh ban hành cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản thay thế, bãi bỏ. UBND tỉnh đã kịp thời chỉ đạo các cơ quan chuyên môn nghiên cứu, tham mưu, soạn thảo đê trình UBND tỉnh ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung theo quy định của pháp luật; hiện còn 02 văn bản đang được các cơ quan chuyên môn nghiên cứu, tham mưu ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung theo quy định. Công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL do HĐND và UBND các huyện, thành phố ban hành được thực hiện theo quy định. Qua đó phát hiện, xử lý theo quy định một số văn bản QPPL do HĐND và UBND cấp huyện ban hành không đúng thẩm quyền.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân các dân tộc trong tỉnh bằng nhiều hình thức đa dạng phong phú: tuyên truyền miệng, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, trên các phương tiện thông tin đại chúng, sinh hoạt “Ngày pháp luật”, lồng ghép với các phong trào, cuộc vận động, hoạt động hoà giải ở cơ sở... (đã tổ chức hơn 80.000 cuộc tuyên truyền miệng pháp luật/3.520.686 lượt người; 52 cuộc thi tìm hiểu pháp luật); cấp xã đã có tủ sách pháp luật và được trang bị đủ 4 loại sách theo quy định (mỗi tủ sách có từ 150 đầu sách pháp luật trở lên); toàn tỉnh có 1.151 tổ hoà giải với 6.101 hòa giải viên; biên soạn và phát hành nhiều loại tài liệu, tờ gấp, đĩa tuyên truyền về pháp luật.  

Tăng cường công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, phòng ngừa và đấu tranh với các vi phạm pháp luật trên nhiều lĩnh vực, đấu tranh với các loại tội phạm, duy trì ổn định trật tự xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh (từ năm 2005 đến nay: Công an tỉnh tiếp nhận 6.793 tin báo, tố giác tội phạm; Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh tiếp nhận 7.930 tin báo, tố giác tội phạm; Tòa án nhân dân tỉnh thụ lý, giải quyết 8.329 vụ/12.225 bị cáo đối với án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động, hành chính; các sở, ban, ngành tỉnh, UBND các huyện, thành phố phát hiện và xử lý hơn 86.000 vụ vi phạm hành chính chủ yếu về các lĩnh vực: trật tự an toàn xã hội, giao thông đường bộ, đất đai, kinh doanh thương mại, quản lý, bảo vệ rừng...). Nâng cao năng lực và bảo đảm hoạt động của các thiết chế xây dựng và thi hành pháp luật; quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ các cơ quan tư pháp nhất là các đơn vị trực tiếp thực hiện công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật (thành lập phòng Xây dựng, Kiểm tra và Thi hành pháp luật trực thuộc Sở Tư pháp; các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh cơ bản bố trí công chức kiêm nhiệm làm công tác pháp chế; các huyện, thành phố bố trí công chức thuộc phòng tư pháp và cấp xã bố trí công chức làm nhiệm vụ tư pháp - hộ tịch); quy trình ban hành văn bản QPPL được đổi mới; các văn bản pháp luật ngày càng hoàn chỉnh, là công cụ để chính quyền quản lý toàn diện các lĩnh vực.

Quan tâm đảm bảo kinh phí cho công tác xây dựng, tuyên truyền PBGDPL, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật (tỉnh đã cố trí 30.739 triệu đồng cho Hội đồng phối hợp PBGDPL các cấp để thực hiện chức năng, nhiệm vụ). Cử nhiều lượt cán bộ, công chức đi học các lớp đại học và trên đại học chuyên ngành luật tại tỉnh theo hình thức liên kết (Đại học Luật Hà Nội mở 02 lớp đại học Luật cho gần 200 người; Đại học Quốc gia Hà Nội mở 02 lớp thạc sỹ luật kinh tế cho 46 người); các cơ quan tư pháp cử trên 2.214 lượt cán bộ, chiến sỹ đi đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ lý luận chính trị... nhìn chung đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp luật các cấp, các ngành trong tỉnh được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn phù hợp, phát huy được năng lực, sở trường, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ được giao.

Các cấp, các ngành thực hiện tốt các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia; duy trì thực hiện 03 văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc; chú trọng công tác hợp tác, trao đổi thông tin, phối hợp chung trong hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và công tác đảm bảo an ninh, trật tự khu vực biên giới với Công an tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); ký 35 biên bản ghi nhớ kết quả hội đàm thường niên trong phối họp đảm bảo an ninh, trật tự khu vực biên giới Việt - Trung; ký biên bản ghi nhớ với lực lượng an ninh các tỉnh Luông Nậm Thà, Bò Kẹo (nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào).

Cấp ủy, chính quyền các cấp thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, giám sát việc thực hiện xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật lồng ghép vào nội dung kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết (Tỉnh ủy đã thực hiện 01 cuộc giám sát chuyên đề đối với 02 tổ chức đảng trực thuộc; Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp tỉnh thực hiện 01 cuộc kiểm tra đối với 02 tổ chức đảng và 08 cuộc kiểm tra, giám sát, rà soát đối với 09 tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; 15 cuộc kiểm tra tại các huyện, thành phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh)...

Những kết quả đạt được trên là cơ bản, tuy nhiên ở từng góc độ cụ thể của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số hạn chế cần phải khắc phục như: Một số văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước còn bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo, chung chung, khó thực hiện, chưa phù hợp với thực tế, đặc biệt là các quy định liên quan đến tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh. Một số văn bản của HĐND, UBND tỉnh ban hành để cụ thể hóa quy định của bộ, ngành Trung ương chưa kịp thời; tổ chức triển khai các văn bản pháp luật ở cơ sở còn chậm và lúng túng. Một số cơ quan tư pháp thực hiện áp dụng pháp luật có việc còn sai sót. PBGDPL chất lượng, hiệu quả còn hạn chế, phương pháp triển khai chậm đổi mới, thiếu linh hoạt, chưa thật sâu rộng. Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành, đoàn thể trong quá trình PBGDPL chưa thường xuyên, liên tục. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác PBGDPL chưa được chú trọng đúng mức.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là mục tiêu quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Một trong những yêu cầu quan trọng của Nhà nước pháp quyền nói chung và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng là quản lý đất nước và xã hội bằng pháp luật. Vì vậy, có thể thấy Nhà nước pháp quyền gắn liền với pháp luật và được hợp pháp hóa bởi pháp luật. Pháp luật là nền tảng của Nhà nước pháp quyền, là công cụ quản lý của Nhà nước. Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sự thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng để bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân, bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội, bảo vệ chế độ, bảo vệ chính quyền nhân dân. Cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ở nước ta thì phạm vi điều chỉnh của pháp luật ngày càng được mở rộng, vai trò của nó ngày càng được nâng cao và không ngừng được củng cố, hoàn thiện.
Để việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của đất nước nói chung, tỉnh nói riêng đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, hiệu lực góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, nhất là trong điều kiện Việt Nam đang hội nhập sâu rộng, tham gia các cam kết, hiệp định, công ước của các tổ chức quốc tế, khu vực... đòi hỏi phải: Tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp về vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về ban hành văn bản QPPL; thường xuyên kiểm tra, giám sát, rà soát, hệ thống hóa văn bản pháp luật, kịp thời phát hiện những mâu thuẫn, chồng chéo để sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, ban hành đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, khả thi. Nâng cao chất lượng và ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện áp dụng pháp luật. Tăng cường công khai, minh bạch các văn bản pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng, Cơ sở Dữ liệu quốc gia về pháp luật. Đảm bảo kinh phí cần thiết đáp ứng yêu cầu của công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật. Củng cố, kiện toàn, bố trí, sắp xếp công chức pháp chế chuyên trách các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh theo quy định; quan tâm đào tạo, tuyển dụng, bổ sung đủ số lượng đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ có chất lượng, nhất là công chức pháp lý người địa phương.../.

Tác giả bài viết: Đức Hiếu

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
top
down