Sâm Lai Châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus K. Komatsu, S. Zhu & S.Q.Cai) thuộc loài sâm Việt Nam, chi Nhân sâm (Panax L.), họ Ngũ gia bì (Araliaceae). Tại Việt Nam, Sâm Lai Châu phân bố hẹp trên địa bàn tỉnh, là loài cây thuốc rất quý hiếm được xếp hạng ở mức độ nguy cấp, đối tượng ưu tiên bảo tồn và phát triển, có giá trị lớn về dược liệu và kinh tế, được người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng từ lâu đời. Hàm lượng saponin trong sâm Lai Châu đạt tới 23,85% trong tự nhiên - mức rất cao so với nhiều loài sâm khác, tốt cho sức khỏe người sử dụng.
Với đặc thù của tỉnh miền núi có diện tích đất rừng lớn 488.632 ha, tỷ lệ che phủ rừng 54%, có trên 70% dân số có cuộc sống liên quan đến rừng. Là tiềm năng, lợi thế rất lớn để tỉnh phát triển kinh tế dưới tán rừng, phát triển dược liệu, đặc biệt là cây Sâm Lai Châu. Đây là loại dược liệu quý hiếm được đưa vào Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (2007) với tất cả bộ phận của cây đều có thể dùng làm thuốc chữa bệnh. Để bảo tồn, phát triển Sâm Lai Châu thành sản phẩm chủ lực, mang lại giá trị kinh tế cao, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 17-NQ/TU, ngày 16/5/2024 về phát triển Sâm Lai Châu giai đoạn 2024-2030, định hướng đến năm 2035. Theo đó, phấn đấu sản lượng khai thác sâm Lai Châu năm 2030 đạt khoảng 30 tấn/năm, đảm bảo nguồn gốc xuất xứ, đạt tiêu chuẩn GACP-WHO hoặc tương đương. Đến năm 2035, đưa sâm Lai Châu cùng với sâm Việt Nam trở thành ngành hàng mang thương hiệu quốc gia, có giá trị xuất khẩu cao, tiến tới mang thương hiệu quốc tế, tạo nguồn thu quan trọng cho tỉnh.
Các đảng ủy trực thuộc tỉnh đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện, cụ thể hóa việc phát triển cây Sâm phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương. Công tác tuyên truyền, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết được chú trọng với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với đặc thù của từng đối tượng thông qua cuộc sinh hoạt chi bộ, đoàn thể, khu dân cư, qua internet, mạng xã hội, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền, khai thác hiệu quả internet và mạng xã hội, thu hút sự quan tâm của đông đảo cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai, thực hiện Nghị quyết một cách đồng bộ, sâu rộng và hiệu quả hơn.
Sau gần 2 năm triển khai thực hiện với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, cấp ủy, chính quyền các cấp, sự tích cực hưởng ứng của các doanh nghiệp, nông dân các dân tộc trong tỉnh, đã mang lại kết quả tích cực, nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh.
Tỉnh đã quan tâm triển khai các hoạt động bảo tồn, phát triển Sâm Lai Châu. Xác định khu vực phân bố tự nhiên, mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái học của cây Sâm Lai Châu, đến nay trên địa bàn tỉnh có 23 tổ chức và 217 hộ gia đình, cá nhân thực hiện trồng Sâm Lai Châu với diện tích khoảng trên 140 ha. Các địa phương có diện tích trồng Sâm lớn như xã Bum Nưa, Khun Há, Tả Lèng, Sì Lở Lầu, Sìn Hồ, Pa Ủ... Diện tích trồng trong nhà màng, nhà lưới khoảng 30 ha. Diện tích trồng dưới tán rừng chiếm 70%, các diện tích còn lại trồng trên đất vườn hộ. Có 15,9 ha được sản xuất theo các tiêu chuẩn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm chiếm 11,4% tổng diện tích, diện tích chứng nhận GACP là 13,9 ha, chứng nhận hữu cơ 2 ha. Có 112 cơ sở của tổ chức, hộ gia đình được cấp mã số cơ sở trồng Sâm Lai Châu.
Trong quá trình sản xuất các doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân đã lựa chọn giống có khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái của địa phương, có khả năng chống chịu sâu, bệnh gây hại; cơ bản sử dụng phân vi sinh được cấp phép sản xuất và lưu hành và phân ủ tại chỗ; đã hạn chế tối đa sử dụng thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu bệnh không đáp ứng tiêu chuẩn về an toàn, góp phần giảm phát thải, bước đầu hình thành quy trình sản xuất theo hướng kinh tế xanh.
Hiện trên địa bàn tỉnh chưa có nhà máy chế biến các sản phẩm từ Sâm Lai Châu; Sâm Lai Châu được sử dụng trực tiếp thân, lá tươi, một số lượng ít được chế biến các sản phẩm nâng cao sức khỏe, trong đó nổi bật là 2 sản phẩm Trà lá Sâm Lai Châu được công nhận là sản phẩm OCOP 3 sao...
Bên cạnh kết quả, việc bảo tồn và phát triển Sâm Lai Châu chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Nghiên cứu khoa học về cây Sâm Lai Châu chưa toàn diện; việc bảo tồn chưa được quan tâm đúng mức; hạ tầng kỹ thuật còn thiếu, chưa đảm bảo phục vụ sản xuất, chế biến hàng hóa quy mô công nghiệp; sản phẩm chưa phong phú, chưa có sản phẩm chế biến sâu mang tính đột phá để tạo giá trị so sánh. Thương hiệu Sâm Lai Châu còn yếu; thị trường tiêu thụ còn chưa định hình rõ; các kênh tiêu thụ nhỏ lẻ, chưa chuyên nghiệp.
Thời gian tới, để phát triển vùng trồng Sâm Lai Châu diện tích 3.000 ha; 100% diện tích được cấp mã số cơ sở nuôi trồng và chỉ dẫn địa lý, phấn đấu đưa Sâm Lai Châu thành ngành hàng có giá trị kinh tế cao, là sản phẩm chủ lực của tỉnh, mang thương hiệu sản phẩm quốc gia; góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh cần tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 17-NQ/TU, về phát triển Sâm Lai Châu giai đoạn 2024-2030, định hướng đến năm 2035, Nghị quyết số 12-NQ/TU, ngày 27/3/2026 về phát triển nông nghiệp hàng hóa, dược liệu theo hướng kinh tế xanh giai đoạn 2026-2030 gắn với Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh.
Trong giai đoạn 2026-2030 thu hút, hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ gia đình cá nhân thực hiện trồng mới 2.859 ha, dự kiến tại các xã: Mường Khoa, Tả Lèng, Khun Há, Sì Lở Lầu, Dào San, Sìn Hồ, Pu Sam Cáp, Hua Bum, Pa Tần, Thu Lũm, Pa Ủ, Mường Tè, Bum Nưa... và một số vùng có điều kiện phù hợp. 100% diện tích trồng Sâm Lai Châu được cấp mã số vùng trồng và chỉ dẫn địa lý;
thu hút các doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng dự án liên kết với các hộ gia đình, cá nhân phát triển vùng Sâm. Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đảm bảo thuận lợi cho việc phát triển Sâm.
Nghiên cứu, xây dựng chính sách hỗ trợ để thu hút các tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ gia đình đầu tư xây dựng vườn sưu tập giống, vườn giống gốc, hệ thống cơ sở dữ liệu về bảo tồn, phát triển nguồn gen, nghiên cứu, chọn, tạo, xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, kiểm soát nguồn gốc và quy trình sản xuất giống, quy trình canh tác; hỗ trợ cấp mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc theo tiêu chuẩn GACP-WHO nhằm nâng cao giá trị đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Thu hút các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sở chế biến, bảo quản các sản phẩm; xây dựng, đăng ký thương hiệu, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm mở rộng thị trường tiêu thụ nâng cao giá trị cây Sâm Lai Châu và hiệu quả kinh tế cho người trồng Sâm, góp phần tích cực vào sự phát triển của tỉnh.