Tỉnh ủy Lai Châu

http://laichau.dcs.vn


Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đã được Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020 xác định là một trong ba chương trình trọng điểm, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Sau gần 4 năm triển khai thực hiện đã đạt được những kết quả quan trọng.
Nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường học góp phần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao
Nhằm cụ thể hóa chương trình trọng điểm Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ tỉnh, ngày 30/9/2016 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU “về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giai đoạn 2016 - 2020”, trong đó xác định mục tiêu: “Phát triển toàn diện giáo dục, đào tạo của tỉnh; tạo ra lực lượng lao động có sức khỏe, trí tuệ, đạo đức, tác phong làm việc khoa học, công nghiệp, có trình độ, kỹ năng, kỹ thuật ngày càng cao. Xây dựng, đào tạo cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý có năng lực, phẩm chất đạo đức, phong cách làm việc hiện đại, chuyên nghiệp”.

Với quan điểm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và nhân dân, Tỉnh ủy đã chỉ đạo cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp tổ chức quán triệt, tuyên truyền, học tập Nghị quyết đến cán bộ, đảng viên, hội viên và nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh bằng nhiều hình thức (trên các phương tiện thông tin đại chúng, sinh hoạt Đảng, đoàn thể, khu dân cư, báo cáo viên...), với tỷ lệ đảng viên được học tập, quán triệt 96,8%, công chức, viên chức chưa phải là đảng viên 95,8%... góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tạo sự đồng thuận, thống nhất trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết. HĐND, UBND tỉnh đã ban hành nghị quyết, quyết định, kế hoạch, chương trình, chính sách có liên quan đến phát triển nguồn nhân lực, kết hợp xây dựng, lồng ghép hệ thống chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển nguồn nhân lực vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của tỉnh và chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai thực hiện...

Nâng cao chất lượng giáo dục, củng cố và phát triển quy mô giáo dục ở các cấp, bậc học và giáo dục nghề nghiêp, định hướng nghề một cách cân đối, hợp lý. Thực hiện dạy học theo định hướng hình thành và phát triển phẩm chất năng lực học sinh; chăm lo hỗ trợ điều kiện học tập cho học sinh vùng cao, đặc biệt khó khăn, biên giới; đẩy mạnh công tác tư vấn hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS và THPT. Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp hàng năm đạt trên 98%; học sinh trúng tuyển vào các trường cao đẳng, đại học tăng từ 43,2% năm 2015 lên 67,3% năm 2019. Duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, xoá mù chữ, năm 2016 tỉnh được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Tập trung xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia (năm 2019 toàn tỉnh có 149 trường đạt chuẩn quốc gia chiếm 43,4%). Xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục cơ bản đủ về số lượng, nâng dần về chất lượng, có trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới. Hệ thống trường, lớp học, cơ sở đào tạo được quy hoạch, sắp xếp phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh (hiện toàn tỉnh có 351 trường, giảm 80 trường so với năm học 2015 - 2016), trong đó đã tập trung ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng, trang thiết bị cho các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông có học sinh bán trú, hoàn thành xây dựng Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn và đưa vào hoạt động năm 2019. Đầu tư nâng cấp, mở rộng quy mô đào tạo đối với các trường chuyên nghiệp và cơ sở đào tạo nghề; thực hiện sắp xếp các trường để nâng cao chất lượng (sáp nhập trường Trung cấp nghề nội trú và Trung cấp Y vào Trường Cao đẳng Cộng đồng Lai Châu; sáp nhập Trung tâm Dạy nghề và Trung tâm GDTX thành Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên tại 6/6 huyện...), đồng thời mở rộng ngành nghề đạo tạo đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Công tác đào tạo lao động, giải quyết việc làm được triển khai tích cực, quan tâm đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng cho lao động nông thôn, đào tạo nhân lực cho ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, gắn đào tạo với giải quyết việc làm (giai đoạn 2016-2019: đào tạo nghề cho 26.497 lao động, bình quân đào tạo trên 6.600 lao động/năm, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 40,1% năm 2015 lên 48,48% năm 2019, ước đạt 50,65% năm 2020; giải quyết việc làm cho 28.131 lao động, bình quân trên 7.300 lao động/năm)...

Coi trọng nâng cao chất lượng dân số, sức khỏe nguồn nhân lực. Hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở được củng cố, sắp xếp tinh gọn; mạng lưới y tế cơ sở được quan tâm đầu tư, phát triển rộng khắp đến tận thôn, bản; triển khai công tác y tế dự phòng, áp dụng nhiều kỹ thuật mới, tiên tiến, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Quan tâm đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ tại chỗ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt tuyến cơ sở, vùng đặc biệt khó khăn (đến năm 2019 toàn tỉnh đạt 10,4 bác sỹ/vạn dân; 75,9% trạm y tế xã có bác sỹ làm việc, 87/108 xã/phường/thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã). Thực hiện tốt các chính sách y tế đối với người nghèo, người dân tộc thiểu số và trẻ em dưới 6 tuổi, chăm sóc sức khỏe học đường, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng từ 22,5% năm 2016 xuống 20,4% năm 2019 (dự kiến đến năm 2020 còn 19,97%). Thực hiện hiệu quả chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, mức giảm tỷ suất sinh hàng năm đạt trên 0,5%o, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên giảm từ 18,05% năm 2016 xuống 16,09% năm 2019; chăm sóc sức khoẻ bệnh nhân điều trị Methadone được quan tâm; chất lượng thể lực và tuổi thọ trung bình của nhân dân từng bước được nâng lên từ 65,7 tuổi năm 2016 lên 66,1 tuổi năm 2019, ước đạt 67 tuổi năm 2020. Các hoạt động rèn luyện thể thao trong nhân dân được tăng cường, mở rộng góp phần nâng cao thể lực, tầm vóc cho người lao động; quan tâm đào tạo và phát triển thể thao thành tích cao; tăng cường giáo dục thể chất, các hoạt động thể dục, thể thao trong trường học. Thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định chế độ chính sách đối với người có công, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; thực hiện tốt công tác bình đẳng giới, phòng, chống tệ nạn xã hội (đến nay đã xây dựng được 36 xã, phường, thị trấn không có tệ nạn ma túy, mại dâm).

Tỉnh đã ban hành và thực hiện các chính sách mới nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với điều kiện thực tế, nhất là các chính sách về đào tạo nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới (giai đoạn 2016-2019 hỗ trợ đào tạo nghề cho 26.497 lao động; cử đi đào tạo, bồi dưỡng 32.920 lượt cán bộ, công chức, viên chức; mở 9 lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng quản trị doanh nghiệp, khởi sự doanh nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa); thực hiện chính sách cử tuyển, xét tuyển học sinh người dân tộc thiểu số vào học tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp theo quy định của Trung ương. Thực hiện tốt chính sách cán bộ như nâng lương, giải quyết chế độ nghỉ hưu, chính sách tinh giản biên chế; tổ chức thi nâng ngạch công chức, thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức theo quy định. Xây dựng, phát triển mạng lưới thông tin thị trường lao động, dịch vụ đào tạo, tìm kiếm, giới thiệu việc làm; đã thực hiện phân tích dữ liệu 90.114 hộ (phần cung lao động) và hơn 500 doanh nghiệp (phần cầu lao động)... Tăng cường phối hợp liên kết với các cơ sở đào tạo trong nước (giai đoạn 2016 - 2019 đã liên kết với 06 trường đại học mở 13 lớp/679 học viên, trong đó: đại học 615 sinh viên; sau đại học 64 học viên). Huy động, lồng ghép các nguồn lực thực hiện đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo nhân lực (giai đoạn 2016 - 2019 kinh phí đào tạo nghề cho lao động nông thôn là 246.062 triệu đồng).

Chú trọng việc sử dụng và phát huy hiệu quả nguồn nhân lực thông qua việc ban hành danh mục vị trí việc làm, bản mô tả vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ, công chức, viên chức theo trình độ, năng lực, vị trí việc làm, đồng thời tập trung sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính từ tỉnh đến cơ sở theo hướng giảm bớt đầu mối, nâng cao hiệu lực, hiệu quả phù hợp với điều kiện của địa phương gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức viên chức. Công tác tuyển dụng, tiếp nhận, bố trí, sử dụng cán bộ đảm báo công khai, dân chủ, lựa chọn người có trình độ năng lực, phẩm chất tốt đáp ứng yêu cầu, phát huy và nâng cao hiệu quả công việc, ưu tiên tuyển dụng con em người địa phương, người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, sắp xếp việc làm phù hợp với trình độ năng lực, chuyên môn đào tạo của học sinh, sinh viên cử tuyển sau khi tốt nghiệp về tỉnh công tác.

Tuy nhiên, sau 4 năm triển khai thực hiện Nghị quyết vẫn còn một số hạn chế như: công tác lãnh đạo, chỉ đạo tuyên truyền, quán triệt triển khai Nghị quyết ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị còn hạn chế. Chất lượng nguồn nhân lực có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của tỉnh. Cơ sở vật chất, trang thiết bị ngành y tế, giáo dục, văn hoá, thể thao ở một số nơi chưa đáp ứng nhu cầu, thiếu bác sỹ có trình độ chuyên môn cao đặc biệt là tuyến cơ sở. Chất lượng giáo dục chưa đồng đều, có sự chênh lệch giữa các vùng; tỷ lệ huy động học sinh ra lớp ở vùng đặc biệt khó khăn, biên giới và tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS, THPT học nghề còn thấp. Đội ngũ giáo viên còn thiếu, nhất là giáo viên ngoại ngữ; trình độ chuyên môn, năng lực nghiệp vụ, khả năng tin học của giáo viên ở một số nơi có mặt còn hạn chế; chất lượng trường đạt chuẩn quốc gia chưa bền vững. Tổ chức bộ máy một số cơ quan, đơn vị chưa thật sự tinh gọn; công tác bồi dưỡng chức danh lãnh đạo, quản lý trước khi bổ nhiệm, bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm ở một số nơi chưa được chú trọng. Các cơ sở đào tạo trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn trong tuyển sinh. Dạy nghề ở một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng, cơ cấu ngành nghề, chất lượng đào tạo nghề chưa cao; công tác phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước với đơn vị đào tạo và đơn vị sử dụng lao động trong dự báo nhu cầu thị trường lao động chưa đồng bộ, nhịp nhàng.

Thời gian tới, vấn đề đặt ra trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đòi hỏi cấp ủy, chính quyền các cấp cần phải tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, trong đó tập trung vào các chỉ tiêu còn thấp và chưa đạt, phấn đấu đến hết năm 2020 các chỉ tiêu đều đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết đề ra. Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động; chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị và phục vụ sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị sát với nhu cầu thực tế.

Tiếp tục tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với vị trí việc làm đảm bảo hiệu quả, thiết thực; chú trọng đào tạo chuyên sâu sau đại học; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã; quan tâm chất lượng các lớp bồi dưỡng, đặc biệt là bồi dưỡng lãnh đạo quản lý cấp sở, cấp phòng và tương đương. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt là chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên phù hợp với vị trí việc làm, chuyên ngành, chú trọng các bộ môn như ngoại ngữ, tin học... Nâng cao hiệu quả công tác xóa mù chữ; huy động nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị đồng bộ, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia; chú trọng đào tạo, phát triển và bổ sung nguồn nhân lực y tế; tăng cường đào tạo chuyên khoa, quan tâm loại hình đào tạo chuyển giao kỹ thuật mới để phát triển kỹ thuật cho các cơ sở y tế thông qua các kế hoạch, đề án, dự án đã được viện trợ.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, đào tạo nghề; quan tâm đào tạo nghề trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nông thôn, mở rộng ngành nghề đào tạo theo nhu cầu của xã hội, đẩy mạnh liên kết đào tạo nghề; đào tạo kỹ năng, năng lực thực hành; đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và tiến bộ khoa học - công nghệ, gắn kết việc đào tạo nghề với nhu cầu của các doanh nghiệp, thị trường lao động nhằm đáp ứng cơ bản và ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề, nâng cao năng lực cạnh tranh, năng suất lao động, đẩy mạnh xã hội hoá, đa dạng nguồn lực cho phát triển giáo dục nghề nghiệp; ưu tiên cho đào tạo đại học và nâng cao cho một số ngành đặc thù.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các cơ sở giáo dục, đào tạo trên địa bàn tỉnh. Kiểm tra chất lượng đào tạo, liên kết đào tạo đối với các cơ sở giáo dục; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, việc quản lý và tổ chức đào tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp./.

Tác giả bài viết: Đức Hiếu

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
top
down