Việc phát triển nông nghiệp hàng hóa và dược liệu đã đi đúng định hướng, phù hợp với tiềm năng, lợi thế, nhiều nguồn lực đã được huy động từ doanh nghiệp, hợp tác xã, cá nhân và hộ nông dân chủ động đầu tư sản xuất, không còn phụ thuộc vào hỗ trợ của Nhà nước; ứng dụng khoa học - công nghệ trong sản xuất như nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao được quan tâm đầu tư. Xu hướng thành lập hợp tác xã để liên kết sản xuất có những chuyển biến rõ rệt...
Đến nay, đã hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung với trên 7.400ha cây mắc ca, 8 doanh nghiệp trồng 3.855 ha, người dân trồng 3.566 ha, diện tích cho khai thác trên 3.000 ha, năng suất bình quân 6 kg quả tươi/1 cây, có nhiều diện tích cho thu hoạch từ 25-30 kg/1 cây. Phát triển vùng sản xuất chè tập trung với diện tích trên 10.900 ha; diện tích chè kinh doanh 8.790 ha; trên 7.000 ha, chiếm 67% tổng diện tích được tổ chức sản xuất theo hình thức nông dân hợp tác với doanh nghiệp thông qua hợp đồng, hợp tác kinh doanh theo chuỗi giá trị sản phẩm. Sản phẩm chủ yếu chè xanh sao lăn, chè xanh duỗi... xuất khẩu chủ yếu sang thị trường các nước ở Trung Đông, Đài Loan, Trung Quốc.... Có 62,4 ha chè được chứng nhận sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn VietGAP, cấp 4 mã số vùng trồng diện tích 61,88ha, chiếm 0,57%; 155 ha chè cổ thụ, sản lượng trung bình hàng năm đạt trên 14 tấn.
Diện tích cây cao su trên 12.930 ha, khai thác đạt 12.037ha; sản lượng mủ đạt trung bình khoảng 0,8 tấn/ha/năm. Bình quân mỗi năm cho sản lượng khai thác đạt khoảng 9.600 tấn. Riêng năm 2025, sản lượng khai thác đạt 10.800 tấn. Toàn bộ quá trình sản xuất, khai thác và chế biến đều được các công ty thuộc Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam triển khai thực hiện; có 2 nhà máy chế biến cao su dạng thô, chưa có các sản phẩm chuyên sâu.
Phát triển vùng sản xuất lúa hàng hóa tập trung quy mô trên 4.200 ha; diện tích lúa đặc sản địa phương gần 1.800 ha. Một số sản phẩm gạo đặc sản như: Tẻ râu, Nếp tan Co Giàng, Séng cù…đã được người tiêu dùng ưa chuộng. Thu nhập 1 ha lúa hàng hóa đặc sản đạt 60-65 triệu/ha/vụ; có 12 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP 3 sao; 1 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP 4 sao; 5 sản phẩm được công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh, trong đó có 1 sản phẩm được công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn khu vực và quốc gia. Giai đoạn 2021-2025 đã có 84 ha lúa thực hiện sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP; trên 3.000 ha áp dụng Kỹ thuật canh tác lúa cải tiến, Quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp với diện tích giảm 10% lượng phân bón, giảm 1-2 lần phun/vụ đối với thuốc bảo vệ thực vật... Một số vùng đã thu gom, xử lý rơm rạ để làm phân bón, thức ăn cho gia súc trong mùa đông… dần hình thành, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất theo hướng kinh tế xanh, nông nghiệp tuần hoàn, phát thải thấp, thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất, nước và vật tư nông nghiệp từng bước hình thành nền nông nghiệp sinh thái.
Có 29,1 ha cây ăn quả được chứng nhận VietGAP, chiếm 0,4%, có 16 vùng trồng được cấp mã số: 13 mã số vùng trồng chuối (diện tích 2.098,5 ha), 03 mã số vùng trồng chanh leo (diện tích 56,6 ha). Người dân đã chú trọng đến việc bón phân hữu cơ, giảm lượng bón phân hóa học, sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc sinh học để phòng trừ sâu bệnh gây hại…
Chăn nuôi phát triển, toàn tỉnh có 280 cơ sở chăn nuôi tập trung, tổng đàn 69.000 con; có 2 cơ sở chăn nuôi lợn được cấp giấy chứng nhận an toàn dịch bệnh động vật; 92 cơ sở, chiếm khoảng 33% tổng số cơ sở chăn nuôi quy mô trang trại có hệ thống xử lý chất thải bằng biogas, đệm lót sinh học. Giai đoạn 2021-2025, có 8 dự án xây dựng trang trại chăn nuôi lợn tập trung được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư, quy mô trên 19.000 lợn nái và gần 30.000 lợn thịt. Các dự án đều được thẩm định chặt chẽ, đảm bảo các yêu cầu về điều kiện chăn nuôi, xử lý chất thải, góp phần gia tăng giá trị sản xuất, bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển chăn nuôi theo hướng kinh tế xanh, bền vững.
Nghề nuôi ong được quan tâm phát triển với 18.000 đàn ong, trong đó có khoảng 5.000 đàn ong nuôi tập trung từ 30 đàn/cơ sở trở lên, sản lượng mật trung bình 25 tấn/năm. Có 4,5 tấn mật ong đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, sản phẩm OCOP, chiếm tỷ lệ 18%. Có 7 hợp tác xã tham gia nuôi ong tập trung, 12 sản phẩm mật ong được chứng nhận OCOP; 1 cơ sở nuôi ong quy mô 300 đàn theo tiêu chuẩn VietGAP.
Cây dược liệu được chú trọng phát triển, 23 tổ chức và 217 hộ gia đình, cá nhân thực hiện trồng Sâm Lai Châu với diện tích trên 140 ha; diện tích trồng trong nhà màng, nhà lưới khoảng 30 ha; trồng dưới tán rừng chiếm 70%, còn lại trồng trên đất vườn hộ. Có 15,9 ha được sản xuất theo các tiêu chuẩn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm chiếm 11,4% tổng diện tích, trong đó diện tích chứng nhận GACP là 13,9 ha, chứng nhận hữu cơ 2 ha. Có 112 cơ sở của tổ chức, hộ gia đình được cấp mã số cơ sở trồng Sâm Lai Châu. Diện tích quế trên 12.500 ha, có 1.000 ha cho thu hoạch; sản phẩm chủ yếu là cành và lá để chiết xuất tinh dầu quế. Thảo quả 6.643 ha, Sa nhân 2.485 ha, Bảy lá một hoa 10,81 ha...
Bên cạnh kết quả đạt được, việc sản xuất theo hướng giảm phát thải, phát triển xanh và bền vững chỉ được triển khai một số loại cây trồng, vật nuôi với quy mô nhỏ, sức lan tỏa còn hạn chế. Đa số người dân vẫn sản xuất theo phương thức truyền thống; ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất tuy còn hạn chế; sản phẩm nông nghiệp được chứng nhận VietGAP, hữu cơ, HACCP, ISO… còn thấp, quy mô nhỏ.
Thời gian tới, phấn đấu khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế phát triển nông nghiệp hàng hóa, dược liệu theo hướng bền vững, tích hợp đa giá trị, xanh, sạch, tuần hoàn, chất lượng cao và ít phát thải, đến năm 2030 đầu tư thâm canh nâng cao chất lượng trên 10.000 ha vùng nguyên liệu chè; 100% diện tích tập trung được cấp mã vùng trồng. Trên 3.500 ha lúa hàng hóa tập trung. Phát triển thêm 15 cơ sở chăn nuôi tập trung quy mô trang trại, nâng tổng số cơ sở chăn nuôi tập trung quy mô trang trại lợn toàn tỉnh lên 115 cơ sở, quy mô 40.000 con/lứa, sản lượng trung bình 8.000 tấn/năm; 100% cơ sở có hệ thống xử lý chất thải đạt yêu cầu. Phát triển thêm 2.000 đàn ong nuôi tập trung, nâng tổng số đàn ong tập trung toàn tỉnh lên 7.000 đàn. Phát triển vùng trồng Sâm Lai Châu đạt 3.000 ha; 100% diện tích được quản lý, cấp mã số cơ sở nuôi trồng và chỉ dẫn địa lý...
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh cần tăng cường tuyên truyền, học tập, quán triệt Nghị quyết số 12-NQ/TU, ngày 27/3/2026 về phát triển nông nghiệp hàng hóa, dược liệu theo hướng kinh tế xanh giai đoạn 2026-2030 gắn với Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh. Chú trọng chuyển đổi các mô hình sản xuất truyền thống sang áp dụng các quy trình sản xuất xanh, sạch, tuần hoàn, nông nghiệp thông minh, tích hợp đa giá trị và giảm thiểu tác động môi trường; tập trung đất đai hình thành các vùng nguyên liệu lớn phục vụ liên kết chế biến, tổ chức sản xuất theo hướng an toàn, hữu cơ, sinh thái và ứng dụng công nghệ cao; thực hiện chuyển đổi đất trồng lúa nương, đất lúa 1 vụ kém hiệu quả, đất nương rẫy trồng cây hàng năm, sang phát triển các sản phẩm chủ lực...
Thúc đẩy các hình thức tổ chức sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm; phát triển mạnh kinh tế tư nhân trong sản xuất nông nghiệp; nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã, tổ hợp tác. Tiếp tục tăng cường thu hút các doanh nghiệp có năng lực vào đầu tư phát triển nông nghiệp, đặc biệt là các sản phẩm có nhiều tiềm năng như chè, sâm, chăn nuôi, thủy sản. Tăng cường hỗ trợ ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi số
. Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số trong sản xuất, chế biến, kinh doanh, kết nối cung - cầu; đẩy mạnh thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát an toàn thực phẩm. Tập trung phát triển, xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu sản phẩm, xúc tiến thương mạ
i, nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa, thu nhập cho người nông dân, góp phần tích cực vào sự phát triển của tỉnh.