Quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Ngay sau khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động, để đảm bảo thống nhất trong công tác chỉ đạo điều hành, Ban Chỉ đạo khoa học, công nghê, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được thành lập thống nhất từ tỉnh đến xã. Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Quyết định về thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của tỉnh do đồng chí Bí thư Tỉnh ủy là Trưởng Ban chỉ đạo chịu trách nhiệm chung, toàn diện và chủ trì chỉ đạo việc xây dựng, ban hành chương trình, kế hoạch hành động của Ban chỉ đạo hằng năm và từng giai đoạn cụ thể. Uỷ ban nhân dân tỉnh thành lập, kiện toàn Ban chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 tại do đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh là Trưởng ban chỉ đạo, thành lập 03 Tổ Công tác giúp việc cho Ban Chỉ đạo. 38 xã/phường và 19 sở, ban, ngành đã thành lập Ban Chỉ đạo do người đứng đầu trực tiếp chỉ đạo, tham gia các hoạt động về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, khẳng định quyết tâm, quyết liệt của tỉnh trong thực hiện nhiệm vụ về chuyển đổi số.
Ủy ban nhân dân tỉnh đã phát động phong trào Thi đua đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đẩy mạnh thi đua khởi nghiệp, sáng tạo, cải tiến nâng cao hiệu quả công việc, năng suất lao động, khơi dậy tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, phát huy trí tuệ con người Việt Nam thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh.
Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Ban Chỉ đạo, đặc biệt là vai trò của đồng chí Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo, việc triển khai các nhiệm vụ đã đạt nhiều kết quả tích cực. Công tác hoàn thiện thể chế, hạ tầng, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực cho khoa học, công nghệ, chuyển đổi số được tập trung chỉ đạo đồng bộ. Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của tỉnh đã ban hành hơn 30 Kế hoạch, Chương trình và Quyết định, hàng trăm văn bản chỉ đạo để cụ thể hoá, sửa đổi bổ sung và hoàn thiện đồng bộ các quy định về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số phù hợp với điều kiện thực tiễn. Toàn tỉnh hiện có 1.991 trạm thu phát sóng di động BTS, 391.644 thuê bao điện thoại, 58.160 thuê bao internet, 15.843 km cáp quang; 100% các cơ quan quản lý nhà nước kết nối internet cáp quang và mạng truyền số liệu chuyên dùng.
Đặc biệt, việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân được chú trọng thực hiện. Giai đoạn 2020 - 2025, triển khai thực hiện 57 nhiệm vụ khoa học và công nghệ phát triển theo chuỗi giá trị và các sản phẩm đặc sản, chủ lực. Chuyển giao 74 quy trình kỹ thuật ứng dụng, thử nghiệm các giống mới tăng năng suất các cây trồng 15 - 48% so với các mô hình sản xuất đại trà. Phục tráng 5 giống bản địa gồm Nếp Khẩu Hốc, Tả Cù, Tẻ Mèo Bắc Dào San, Khẩu Lương Phửng và nếp Tan Pỏm; Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá các dân tộc trên địa bàn tỉnh...
Việc xây dựng và phát triển nhãn hiệu các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm chủ lực được quan tâm, triển khai phù hợp với tình hình thực tế của địa phương; cho phép sử dụng tên địa danh và bản đồ một số địa phương để đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa. Toàn tỉnh có 149 nhãn hiệu chứng nhận được cấp văn bằng bảo hộ, trong đó có 1 chỉ dẫn địa lý, 11 kiểu dáng công nghiệp, 3 nhãn hiệu tập thể, 19 nhãn hiệu chứng nhận và 115 nhãn hiệu thông thường. Đã có nhiều nhãn hiệu chứng nhận cho các sản phẩm nông sản địa phương như gạo Séng Cù, Tẻ râu, Khẩu Ký, Nếp Tan Co Giàng; chè Tam Đường, Tân Uyên; Miến dong Bình Lư; ớt Trung Đoàn Mường Tè; rau dược liệu Tam Đường; Hoa Lan Lai Châu; Sâm Lai Châu; Đào Tam Đường, Mận Tam Đường, Lê Tam Đường, Chuối Phong Thổ, Thảo dược tắm của người Dao Sìn Hồ; Hạt Giổi Mường Tè...
Việc công nhận sáng kiến có phạm vi ảnh hưởng và hiệu quả áp dụng toàn quốc và sáng kiến có phạm vi ảnh hưởng và hiệu quả áp dụng trên địa bàn tỉnh được quan tâm chỉ đạo thực hiện. Đã công nhận 3 sáng kiến có phạm vi ảnh hưởng toàn quốc; 401 sáng kiến phạm vi cấp tỉnh. 200 cơ sở sản xuất, kinh doanh đăng ký sử dụng mã số, mã vạch, mã QR code để truy xuất nguồn gốc sản phẩm cơ sở sản xuất và 3 đơn vị triển khai, áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm do đơn vị sản xuất. Hướng dẫn và hoàn thiện hồ sơ đăng ký mã số mã vạch cho 80 cơ sở, công bố tiêu chuẩn cơ sở cho 160 sản phẩm...
Tuy nhiên, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa có bước đột phá, chưa hình thành thị trường khoa học và công nghệ; kết quả hợp tác, trao đổi về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ chưa rõ nét; tổ chức, doanh nghiệp khoa học, công nghệ, doanh nghiệp công nghệ số trên địa bàn tỉnh còn ít, các doanh nghiệp chưa chủ động ứng dụng và đổi mới công nghệ, tốc độ phát triển của hoạt động sản xuất, kinh doanh trên không gian mạng chưa mạnh mẽ...
Thời gian tới để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là khâu đột phá, động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng, góp phần xây dựng tỉnh Lai Châu phát triển xanh, nhanh và bền vững. Phấn đấu tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 9-10% GRDP; 100% doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, kinh doanh và quản trị; 100% người dân được quản lý sức khỏe bằng hồ sơ sức khỏe điện tử... Cần tiếp tục quán triệt, triển khai nghiêm túc các mục tiêu về phát triển khoa học công nghệ được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Nghị quyết số 10-NQ/TU, ngày 5/3/2026 của Tỉnh ủy về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh đến năm 2030...
Tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chuyển tư duy từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển dựa trên khoa học, đổi mới sáng tạo và dữ liệu, công nghệ. Xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách; Tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng cho khoa học, công nghệ; Phát triển, thu hút và trọng dụng nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phổ cập kỹ năng số cơ bản cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng “Thôn, bản, tổ dân phố số”... nâng cao đời sống vật chất tinh thần của Nhân dân, tạo niềm tin, sự đồng thuận trong toàn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của tỉnh.