Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, việc đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh hội nhập quốc tế và kinh tế số. Ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW, Tỉnh ủy ban hành Chương trình hành động số 05-CTr/TU ngày 24/11/2025 thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW để triển khai phù hợp với kiện thực tiễn của tỉnh. Xác định yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu phát triển con người toàn diện, có tri thức, kỹ năng, sức khỏe, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đây là nhiệm vụ vừa cấp thiết trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, từng bước xây dựng nền giáo dục phát triển toàn diện, vững chắc.
Trong giai đoạn 2021-2025,
tỉnh đã ban hành nhiều quyết sách quan trọng về phát triển giáo dục và đào tạo, tập trung vào cơ chế, chính sách hỗ trợ học sinh, giáo viên, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. Triển khai đồng bộ các chính sách chăm sóc, nuôi dưỡng, nội trú, bán trú, hỗ trợ học sinh dân tộc, vùng sâu, cùng với sự quan tâm, phối hợp của gia đình và cộng đồng, đã góp phần tạo điều kiện học tập ổn định, công bằng hơn cho học sinh, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục toàn diện. Các chính sách hỗ trợ của trung ương và địa phương đã được quản lý, sử dụng đúng đối tượng, mục đích và đạt hiệu quả tích cực, giúp bổ sung nguồn giáo viên, nâng cao chất lượng dạy học và mở rộng cơ hội học tập cho nhiều học sinh từ hộ nghèo, dân tộc thiểu số và vùng sâu, vùng khó khăn, giảm gánh nặng tài chính cho gia đình, nâng cao tỷ lệ huy động và chuyên cần, hạn chế bỏ học; việc nâng cao tỷ lệ tiếp cận giáo dục phổ cập ở nhiều vùng khó khăn đã được bảo đảm.
Chất lượng giáo dục đại trà, giáo dục mũi nhọn, giáo dục vùng khó khăn có bước chuyển biến tích cực; tỷ lệ chuyển lớp, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông luôn đạt mức cao và duy trì ổn định; giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp được cải thiện. Tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 1...
Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên được tăng cường bổ sung về số lượng và cơ cấu, được quan tâm đào tạo bồi dưỡng để bảo đảm đạt chuẩn, nâng cao năng lực trình độ, bồi dưỡng kỹ năng sư phạm, phương pháp giảng dạy hiện đại; toàn ngành hiện có 11.239 người, trong đó 47 công chức cơ quan Sở Giáo dục và Đào tạo, 908 cán bộ quản lý, 8.510 giáo viên và 1.774 nhân viên. Cơ cấu đội ngũ cơ bản bảo đảm đủ các bộ môn, đáp ứng yêu cầu giảng dạy các cấp học; tỷ lệ giáo viên đạt và vượt chuẩn theo quy định đạt 96,6%. Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức kỹ năng số cơ bản cho cán bộ quản lý, giáo viên; đa số giáo viên biết sử dụng các phần mềm quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin và khai thác các nền tảng AI phục vụ dạy học; 45,2% giáo viên được đào tạo nâng cao kỹ năng số, sử dụng AI và công nghệ số trong giảng dạy.
Cơ sở vật chất và điều kiện học tập, sinh hoạt đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt tại các trường nội trú/bán trú: phòng học, phòng chức năng, ký túc xá, nhà ăn, khu sinh hoạt, sân chơi, thể thao… dần được đầu tư, xây dựng; điều này không chỉ nâng cao điều kiện học tập, sinh hoạt cho học sinh, mà còn tạo môi trường thuận lợi để dạy và học toàn diện, giảm thiểu các khó khăn do địa lý, giúp học sinh yên tâm học tập ổn định lâu dài. Toàn tỉnh có 235 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 71,9%; hiện có 7.332 phòng học, tỷ lệ kiên cố đạt 79,7%; bán kiên cố đạt 19,9%; phòng học tạm 0,7%...
Mạng lưới trường, lớp học được sắp xếp theo hướng tinh gọn đầu mối, mở rộng quy mô, phù hợp với quy hoạch chung, điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân cư và định hướng phát triển giáo dục, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của người dân. Toàn tỉnh có 337 cơ sở giáo dục - đào tạo, 5.210 lớp, 150.498 trẻ em, học sinh, học viên, sinh viên. Giáo dục mầm non có 113 trường, với 587 điểm trường, 1.522 lớp và 35.217 trẻ. Giáo dục phổ thông gồm 215 trường: 82 trường tiểu học, 110 trường trung học cơ sở và 23 trường trung học phổ thông với tổng số 3.590 lớp, 112.099 học sinh. Có 8 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên và trường Cao đẳng Lai Châu.
Quan tâm đầu tư, phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh vùng sâu, vùng xa được học tập trong môi trường ổn định, chất lượng; đến năm 2025, toàn tỉnh có 9 trường phổ thông dân tộc nội trú và 85 trường phổ thông dân tộc bán trú, đáp ứng nhu cầu học tập, sinh hoạt của trên 44.000 học sinh vùng sâu, vùng xa, nâng cao mặt bằng dân trí và nguồn nhân lực
vùng đồng bào dân tộc thiểu số....
Bên cạnh những kết quả đạt được, giáo dục và đào tạo của tỉnh vẫn còn một số hạn chế: Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa được phát huy đầy đủ; sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội có mặt chưa chặt chẽ, hiệu quả chưa toàn diện; chất lượng giáo dục chưa có bước đột phá. Đội ngũ giáo viên chưa bảo đảm về số lượng, cơ cấu và chất lượng; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ở một số nơi còn thiếu, chưa đồng bộ.
Thời gian tới để tạo bước tiến mạnh mẽ, vững chắc về chất lượng giáo dục và đào tạo; xây dựng nền giáo dục phát triển toàn diện, nhân văn, từng bước hiện đại, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng. Phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi; giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3 và đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 2; 100% cơ sở giáo dục phổ thông có câu lạc bộ và không gian văn hóa các dân tộc phù hợp; 100% cơ sở giáo dục dạy học môn tiếng Anh bắt buộc từ lớp 1... Cần quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ được xác định trong văn kiện Đại hội XV Đảng bộ tỉnh; Nghị quyết số 06-NQ/TU, ngày 04/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030; phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị; nâng cao nhận thức và quyết tâm hành động cụ thể của cấp ủy, chính quyền trong việc lãnh đạo, chỉ đạo; gắn trách nhiệm người đứng đầu về điều kiện đảm bảo, chất lượng công tác giáo dục và đào tạo với mức độ hoàn thành nhiệm vụ của chính quyền các cấp.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù, thu hút, đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực giáo dục là con người địa phương, nhất là đối với các môn học thiếu nguồn tuyển như: Tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, Toán, Ngữ văn, Vật lý, Tin học, Công nghệ, Âm nhạc, Mỹ thuật. Thực hiện chính sách cử tuyển, đặt hàng; liên kết với các cơ sở để đào tạo theo nhu cầu sử dụng. Xây dựng cơ chế thu hút người có năng lực, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm ngoài lực lượng nhà giáo tham gia giảng dạy, huấn luyện, tư vấn trong các cơ sở giáo dục. Củng cố, mở rộng quy mô các trường nội trú, bán trú; ưu tiên đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất, mở rộng diện tích, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và công nghệ thông tin, hiện đại hóa điều kiện dạy học, học tập và sinh hoạt.
Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; chất lượng giáo dục toàn diện, phát triển năng lực và kỹ năng cho học sinh. Triển khai hiệu quả chương trình giáo dục ở tất cả các cấp học, gắn với duy trì vững chắc, nâng cao tỷ lệ huy động trẻ, học sinh trong độ tuổi đến trường. Triển khai kế hoạch phát triển năng lực số cho học sinh, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số thu hút học sinh ra lớp, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới.